Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Cập nhật lúc 09:29, Thứ Ba, 24/07/2007 (GMT+7)

Năm 2005, tôi có mua 1  lô đất tái định cư tại xã Tam An của ông Nguyễn Văn Ngọc với giá 160 triệu đồng. Trong giấy hợp đồng chuyển nhượng có ghi rõ số hiệu lô đất, diện tích lô đất và nếu ông Nguyễn Văn Ngọc không thực hiện hợp đồng thì phải trả lại cho tôi gấp đôi giá trị lô đất (tức 320 triệu  đồng). Sau khi ký hợp đồng, tôi đã giao đủ 160 triệu đồng cho ông Nguyễn Văn Ngọc. Cho đến nay đã hơn 2 năm trôi qua, đất thì ông Nguyễn Văn Ngọc không giao, tiền thì ông cũng không trả lại. Tôi đã làm đơn thưa ra xã Tam An, xã có mời hòa giải nhưng sự việc vẫn không kết quả. Tôi xin hỏi: Hành vi của ông Nguyễn Văn Ngọc phạm tội gì? Xử phạt ra sao và cơ quan nào xử lý? Tôi xin cảm ơn báo Đồng Nai.

Trương Thị Điệp (Ấp 4, xã Tam An, huyện Long Thành)

Nếu đúng như thông tin mà chị đã cung cấp, thì ông  Nguyễn Văn Ngọc có thể phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân". Chị làm đơn khởi kiện đến Công an huyện và Viện Kiểm sát nhân dân huyện, đề nghị các cơ quan xử lý  theo pháp luật.

Điều 139 - Bộ luật Hình sự quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm ngàn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm ngàn đồng, nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm  hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

2. Phạm tội  thuộc  một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù  từ hai năm đến bảy năm:

a. Có tổ chức;

b. Có tính chất chuyên nghiệp;

c. Tái phạm nguy hiểm;

d. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

e. Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

f. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g. Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b. Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

LS. Nguyễn Đức

.
.
;
.
.