Thế nào là chung sống như vợ chồng?

Cập nhật lúc 09:19, Thứ Bảy, 08/09/2018 (GMT+7)

Việc chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn sẽ gây ra những tác động lớn đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ chung sống như vợ chồng và những người có liên quan.

Luật sư Nguyễn Đức, Chủ tịch Hội Luật gia tỉnh tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình đến đồng bào dân tộc thiểu số ở thị trấn Tân Phú (huyện Tân Phú). Ảnh: D.quỳnh
Luật sư Nguyễn Đức, Chủ tịch Hội Luật gia tỉnh tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình đến đồng bào dân tộc thiểu số ở thị trấn Tân Phú (huyện Tân Phú). Ảnh: D.quỳnh

Luật sư Nguyễn Đức, Chủ tịch Hội Luật gia tỉnh cho rằng tình trạng chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn đang diễn ra ngày càng nhiều. Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Hiện nay có nhiều dạng thức của chung sống như vợ chồng như: sống chung không đăng ký kết hôn, sống thử, sống chung giữa 2 người đồng tính, giữa những người chuyển giới với nhau hoặc với người khác giới...

* Sống chung nhưng không đăng ký kết hôn

Theo luật sư Nguyễn Đức, tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn cũng không được coi là vợ chồng mà chỉ được xem như một trường hợp chung sống như vợ chồng. Việc chung sống như vợ chồng như trên tuy không được pháp luật công nhận nhưng vẫn không bị pháp luật cấm nếu không vi phạm về độ tuổi kết hôn và các trường hợp bị pháp luật cấm kết hôn như: chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ...

Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9-6-2000 của Quốc hội quy định: Từ ngày 1-1-2001, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật chấp nhận là vợ chồng...

“Dưới góc độ pháp luật, việc sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn hoặc sống thử ảnh hưởng tới giá trị của các quy định pháp luật, ý thức thực thi pháp luật giảm; ý nghĩa, giá trị pháp lý của giấy chứng nhận kết hôn giảm sút” - luật sư Nguyễn Đức nhấn mạnh.

Hiện nay, bên cạnh sống chung như vợ chồng giữa những người khác giới còn có tình trạng sống chung như vợ chồng giữa người đồng tính, người chuyển giới. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”, tuy nhiên, trên thực tế pháp luật không cấm những người cùng giới tính được chung sống với nhau. Do đó, việc những người cùng giới tính chung sống với nhau như vợ chồng không bị xem là vi phạm pháp luật.

Việc chung sống như vợ chồng của những người đồng tính cũng giống như những người chuyển giới, chưa được pháp luật thừa nhận. Do đó, hiện không có một khung pháp lý nào để đảm bảo quyền lợi cho những người đồng tính nên khi xảy ra tranh chấp giữa những cặp đôi đồng tính thì chưa được giải quyết theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hơn thế nữa, đối với những người chuyển giới chung sống như vợ (chồng) với người khác giới còn gặp nhiều vấn đề xuất phát từ thủ tục xác định lại giới tính.

* Giải quyết hậu quả pháp lý

Theo Điều 14, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau: nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của luật này. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Luật gia Vòng Khiềng, Giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật (Hội Luật gia tỉnh) cho biết việc giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên. Trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Khoản 1, Điều 147 Bộ luật Hình sự quy định các trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật như sau: Người nào đang có vợ, có chồng chung sống như vợ/chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng chung sống như vợ/chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ/chồng.

Diễm Quỳnh (ghi)

.
.
;
.
.