Vĩnh biệt đồng chí Ngô Bá Cao, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa:
Giữ một lòng son vì Đảng, vì dân

Cập nhật lúc 21:52, Thứ Hai, 04/05/2009 (GMT+7)

Cách đây 85 năm, tại xã Xuân Tiến, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định - một vùng quê nằm giữa 3 con sông: sông Hồng, sông Ninh Cơ và sông Sò, giáp với Giao Thủy ngày đêm âm vang tiếng sóng biển Đông, đồng chí Ngô Quang Cao, tức Ngô Bá Cao đã được sinh ra trong một gia đình có cha là thợ mỏ, mẹ là bần nông.

 

* Sớm giác ngộ chủ nghĩa yêu nước

 

Lớn lên ở một vùng quê có nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, truyền thống yêu nước, với lưng chữ Nho và chữ Quốc ngữ cùng bàn tay của người đúc đồng, người thợ nguội tài hoa, năm 1943, lúc ấy mới 19 tuổi, đồng chí đã rời Xuân Trường - Thành Nam hành trình về phương Nam để làm công nhân và hoạt động cách mạng.

 

Từ chỗ chứng kiến cảnh lầm than khổ cực của người nông dân ở quê nhà đến đời thợ bị bóc lột đến cùng cực trong các xưởng máy, hầm mỏ, đồn điền - mà bản thân cũng là một công nhân, nên đồng chí rất đồng cảm sẻ chia với nỗi nhọc nhằn của những người cần lao cùng khổ. Đồng chí sớm giác ngộ chủ nghĩa yêu nước và được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc.

 

Trong hành trình về phương Nam, đồng chí đã chọn tỉnh Biên Hòa - nơi có Nhà máy cưa BIF, đề-pô xe lửa Dĩ An, Nhà máy đường Hiệp Hòa và các đồn điền cao su có đông công nhân để làm điểm dừng chân và nơi đây đã thành quê hương thứ hai của đồng chí.

 

Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, tình yêu nước nồng nàn trong trái tim người công nhân - đoàn viên Thanh niên cứu quốc Ngô Bá Cao bùng cháy cùng ngọn lửa yêu nước nhiệt thành của thế hệ thanh niên Việt Nam thời bấy giờ. Ngay từ năm 1945, đồng chí đã gia nhập Quốc gia Tự vệ cuộc - tiền thân của Công an nhân dân ngày nay, lúc đó do đồng chí Ngô Hà Thành chỉ huy. Với phong cách hoạt động sôi nổi, gắn bó mật thiết với nhân dân và đạt hiệu quả cao trong xây dựng lực lượng, tổ chức đánh địch, cuối năm 1946, đồng chí được các đồng chí Huỳnh Văn Lũy (Tỉnh ủy viên tỉnh Biên Hòa) và Nguyễn Văn Nghĩa (Phó chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh Biên Hòa), là 2 tri thức, đảng viên cộng sản có uy tín của địa phương, giới thiệu và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Tháng 3-1947, khi vừa mới được công nhận đảng viên chính thức, đồng chí được tín nhiệm chỉ định làm Huyện ủy viên phụ trách tuyên huấn của huyện Châu Thành, tỉnh Biên Hòa. Sau đó một năm, đồng chí là Ủy viên thường vụ Huyện ủy Vĩnh Cửu phụ trách Chính trị viên Huyện đội Vĩnh Cửu. Năm 1949, đồng chí là Phó bí thư, phụ trách chính trị viên Huyện đội Vĩnh Cửu.

 

Trong các cương vị công tác được tổ chức phân công, đồng chí luôn cùng với tập thể Đảng bộ và nhân dân huyện Vĩnh Cửu vượt lên khó khăn, nhất là khó khăn của trận bão lụt Nhâm Thìn 1952, tổ chức nhiều trận đánh táo bạo, cùng cả Nam bộ chia lửa với Điện Biên Phủ.

 

Kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đồng chí Ngô Bá Cao là một trong số những chiến sĩ kiên cường được Đảng phân công ở lại bám trụ ở miền Nam. Từ năm 1954 đến năm 1956, đồng chí được Đảng tín nhiệm phân công giữ các trọng trách của Tỉnh ủy Biên Hòa, như: Tỉnh ủy viên phụ trách giao thông căn cứ địa Biên Hòa; Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy phụ trách di cư và thanh phụ vận; Phó bí thư phụ trách binh vận.

Là một chiến sĩ cộng sản xuất thân từ công nhân, nên trong giai đoạn khó khăn này, đồng chí luôn giữ vững lập trường, kiên định, mưu trí, sáng tạo cùng tập thể hoàn thành nhiệm vụ được giao, được tổ chức Đảng tin cậy, nhân dân tin yêu, quý mến. Nhờ đó, trong khó khăn của cách mạng miền Nam, giai đoạn 1957-1959, đặc biệt là sau khi Mỹ - Diệm ban hành luật 10/59, đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, lê máy chém khắp miền Nam khủng bố đồng chí, đồng bào, với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa, đồng chí Ngô Bá Cao luôn bám phong trào, sát cánh cùng cơ sở, hòa mình vào phong trào cách mạng của quần chúng.

 

* Vì dân, vì Đảng quyết hy sinh

 

Đây là một giai đoạn khó khăn vô cùng, nhưng với tư cách là người đứng đầu Đảng bộ Biên Hòa, đồng chí cùng tập thể Ban chấp hành, Ban Thường vụ lãnh đạo nhân dân bền gan xây dựng phong trào, chuẩn bị kế hoạch lâu dài cho cách mạng. Nhưng chẳng may, trên đường đi công tác, ngày 21-8-1959, đồng chí bị địch bắt và đưa ra tòa án quân sự đặc biệt, sau khi Đại đội C250 tiến công tiêu diệt 2 tên cố vấn quân sự Mỹ tại Nhà máy cưa BIF Biên Hòa.

 

Sau 4 tháng bị tra tấn hết sức dã man, người chiến sĩ cộng sản Ngô Bá Cao đã hiên ngang bước ra pháp đình của tòa án quân sự đặc biệt, điềm tỉnh đối mặt với đại tá Nguyễn Văn Thọ, chánh thẩm phiên tòa  với  tờ  giấy ghi dòng chữ: "đả đảo bản cáo trạng phi lý, bản cáo trạng vu khống" trước sự ngạc nhiên của nữ luật sư Nguyễn Phước Đại, người tự nguyện bào chữa cho Ngô Bá Cao và sự lồng lộn của kẻ thù. Phiên tòa đặc biệt đã kết thúc trong sự phẫn nộ của nhân dân Biên Hòa và cả nước, bởi chúng tuyên án tử hình đồng chí về tội làm "cộng sản phản nghịch, tuyên tịch thu tài sản và chém đầu tại Biên Hòa".

 

Trong thời gian bị biệt giam với các tử tù ở khám Chí Hòa, đồng chí bị giam chung với các đồng chí Hoàng Lệ Kha và Nguyễn Văn Đại. Cận kề cái chết, đồng chí vẫn luôn lạc quan tình yêu cách mạng, như đồng chí bày tỏ trong bài thơ "Trước máy chém quân thù" mà đồng chí viết vào mùa xuân năm 1960:

 

"Dẫu ngày mai có đầu rơi khỏi cổ

Cũng thỏa lòng xứng đáng mặt nam nhân

Nhưng đường đi tới mới được hai phần

Thì hôm nay lại lọt vào tay giặc

Bao tra tấn, bao cực hình hà khắc

Cùng bao lần, giặc mơn trớn dụ đầu hàng

Uổng công chúng, lũ bán nước dã man

Ta khẳng giữ một lòng son vì Đảng

Đã sẵn rồi một thái độ hiên ngang

Sẽ anh dũng bước trên đài gươm máy chém".

 

Sau khi đồng chí Nguyễn Văn Đại bị đưa lên máy chém ở Trảng Bom, rồi đến đồng chí Hoàng Lệ Kha bị đưa đi chém ở Tây Ninh, đồng chí Ngô Bá Cao vẫn bình tỉnh trước giờ  kê cổ vào máy chém như lời tâm tình:

 

"Tôi cùng bạn chung án tử hình

Cùng vì dân nước, quyết hy sinh

Xem thường máy chém, khinh gươm súng

Một dạ trung thành, sống chết vinh".

 

Thông qua những câu thơ phản ánh dòng suy nghĩ trước giờ bước qua cái chết của người tử tù cộng sản, chúng ta càng thêm kính trọng và khâm phục lòng kiên trung và thái độ lạc quan cách mạng của đồng chí Ngô Bá Cao.

 

* Trái tim thuộc về Đảng, về nhân dân

 

Nhưng đồng chí không chết ở pháp trường nhờ Hội Luật gia Dân chủ quốc tế và nhân dân cả nước xuống đường đồng loạt lên án chế độ Mỹ - Diệm vi phạm nhân quyền, giết hại những người yêu nước miền Nam.

 

Trước sức mạnh của dư luận cùng công luận trong và ngoài nước, nhất là sự can thiệp của Hội Luật gia Dân chủ quốc tế, đã buộc bàn tay đẫm máu của chế độ Mỹ - Diệm phải chùng lại. Kẻ thù không thể giết đồng chí Ngô Bá Cao bằng máy chém như kế hoạch, nhưng thâm hiểm hơn, chúng đày đồng chí ra Côn Đảo, nơi được coi là địa ngục trần gian nhằm thủ tiêu ý chí đấu tranh của đồng chí. Trải qua 14 năm 6 tháng bị giam cầm nơi lao tù Côn Đảo với biết bao nhục hình tra tấn theo kiểu thời trung cổ, đồng chí vẫn luôn giữ vững tấm lòng kiên trung với Đảng, với nhân dân. Phẩm chất công nhân của người chiến sĩ cộng sản Ngô Bá Cao càng được trui rèn trong lửa đỏ đấu tranh và đau khổ tận cùng của nhà tù Côn Đảo càng rạng ngời chất thép trong con người mạnh mẽ dám đấu tranh với những cơn bão của số phận "chim lồng, cá chậu". Đồng chí đã đấu tranh vượt lên chính mình để giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản không có sức mạnh phi lý nào có thể khuất phục được.

 

Chính vì vậy, điểm lại một chuỗi dài thời gian, tính từ khi đồng chí bị địch bắt giam năm 1959 đến lúc được trao trả tù chính trị ở Lộc Ninh năm 1974, các cơ sở cách mạng và tổ chức Đảng ở Biên Hòa đều được giữ vững. Quá trình tù đày của đồng chí được tổ chức xác minh "là trong sạch, không đầu hàng, không khai báo, kiên cường đấu tranh bảo vệ khí tiết", được tính tuổi Đảng liên tục. Qua đó cho chúng ta thấy trái tim của đồng chí thuộc về Đảng, thuộc về nhân dân.

 

Vĩnh biệt đồng chí Ngô Bá Cao, người chiến sĩ cộng sản kiên cường có hơn 60 năm tuổi Đảng, chúng ta đau đớn vì mất đi một hạt giống đỏ của Đảng, của nhân dân. Đồng chí ra đi để lại cho thế hệ chúng ta những tình cảm kính trọng, thân thương về một người cộng sản suốt đời phấn đấu hy sinh vì lý tưởng cách mạng, sống liêm khiết, giản dị, gần gũi với đồng chí, đồng bào...

P.V

.
.
;
.
.