Kỷ niệm 35 năm Ngày thành lập Bảo tàng Đồng Nai (1976-2011):

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Cập nhật lúc 21:51, Thứ Sáu, 25/11/2011 (GMT+7)

Ra đời từ phòng Bảo tồn bảo tàng (1976), đến nay qua 35 năm tồn tại, Bảo tàng Đồng Nai (BTĐN) là một trong những đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Văn hóa - thể thao và du lịch với nhiệm vụ nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của Đồng Nai.

Đồng Nai là một trong những địa phương thuộc miền Đông Nam bộ, có lịch sử kiến tạo hàng triệu năm và lịch sử hình thành văn hóa từ hàng ngàn năm trước công nguyên. Những kết quả khai quật khảo cổ học sau năm 1975 do BTĐN phối hợp với các chuyên gia khảo cổ Việt Nam và vùng Nam bộ đã thu về hàng vạn tiêu bản hiện vật khảo cổ từ thời kỳ tiền sử cho đến sơ sử… Các di vật khảo cổ học đã chứng minh vùng đất Đồng Nai hàng ngàn năm trước công nguyên đã từng là trung tâm kim khí nổi tiếng cả nước và là một trong ba nền văn hóa tiêu biểu của Việt Nam, gồm: văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai.

* Sưu tầm, bảo tồn văn hóa vật thể và phi vật thể

Những di chỉ khảo cổ học đã được thám sát và khai quật, như: Cầu Sắt, Suối Chồn, Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch Đông, Rạch Lá, Bình Đa, Phú Hòa, Hàng Gòn, Suối Linh, Cây Gáo… Nhiều sưu tập di vật khảo cổ học đem về bảo tàng, như: công cụ đá cũ, mảnh tước, rìu đá, cuốc đá, đàn đá, tượng đá, hũ gốm, qua đồng, giáo đồng, hạt chuỗi, mảnh vàng Óc Eo… Trong đó có những sưu tập cổ vật quý hiếm (đàn đá, qua đồng, tượng đá, mảnh vàng…) đã được lập hồ sơ đề nghị công nhận Bảo vật quốc gia. Kết quả nghiên cứu khảo cổ học Đồng Nai còn được giới thiệu qua các công trình như: Khảo cổ học tiền sử Đồng Nai, Đồng Nai 10 thế kỷ đầu công nguyên, Văn hóa khảo cổ Đồng Nai vùng ngập mặn thời kim khí...

Lãnh đạo tỉnh tham quan khai mạc triển lãm chuyên đề tại Bảo tàng Đồng Nai.          Ảnh: Nguyên Thơ
Lãnh đạo tỉnh tham quan khai mạc triển lãm chuyên đề tại Bảo tàng Đồng Nai. Ảnh: Nguyên Thơ

Di sản thiên nhiên Đồng Nai rất đa dạng tạo nên “sản vật” đặc trưng của vùng đất. Từ các mẫu động thực vật hóa thạch, mẫu đất đá thổ nhưỡng, khoáng sản, mẫu thú nhồi, mẫu động vật thủy sản đến mẫu cây, lá, hoa, quả, hạt thực vật… đều được cán bộ bảo tàng tận tâm chọn lựa, sưu tầm phục vụ nghiên cứu khoa học trong và ngoài bảo tàng.

Vùng đất Đồng Nai vốn là nơi tụ cư của nhiều dân tộc. Một kho tàng với hàng ngàn hiện vật đã được cán bộ BTĐN sưu tầm rất đặc trưng, tiêu biểu về văn hóa dân tộc. Bộ sưu tập hiện vật dân tộc học rất phong phú của các tộc người như: Chơro, Mạ, S’Tiêng, Cơho, Việt, Hoa, Chăm, Mường, Nùng, Tày, Khmer, Dao, Sán Dìu... Những tư liệu hiện vật về trang phục, trang sức, nhạc cụ, vật dụng sinh hoạt, công cụ sản xuất, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội… hầu hết đã được đưa về bảo quản và trưng bày trong bảo tàng. Để có được những sưu tập hiện vật, nhiều thế hệ cán bộ BTĐN đã không quản ngại khó khăn, đường sá xa xôi, vất vả đến những làng dân tộc ít người, địa bàn đồng bào định cư để sưu tầm những hiện vật tưởng chừng như rất đơn sơ giản dị đó, nhưng lại chứa đựng biết bao giá trị văn hóa, bản sắc của các tộc người ở địa phương.

Đồng Nai còn là mảnh đất “miền Đông gian lao mà anh dũng” trong hai cuộc kháng chiến. Sau năm 1975, nhiều sưu tập hiện vật lịch sử cách mạng được BTĐN sưu tầm, gồm: vũ khí, quân trang, quân dụng, cờ, ảnh tư liệu, kỷ vật kháng chiến của chiến sĩ cách mạng, tù chính trị, kỷ vật của những anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, bà mẹ Việt Nam anh hùng…

Trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước, Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của phía Nam. Vì vậy, đề tài sưu tầm về anh hùng lao động thời kỳ đổi mới cũng được BTĐN triển khai kịp thời, bên cạnh những hiện vật về sự nghiệp công nghiệp hóa Đồng Nai luôn được chú trọng.

Không chỉ sưu tầm văn hóa vật thể, BTĐN còn quan tâm đầu tư nghiên cứu sưu tầm văn hóa phi vật thể. Những đề tài đã được triển khai, như: Điều tra văn hóa phi vật thể, Khảo sát nhà cổ ở Đồng Nai, Khảo sát lễ hội và tín ngưỡng người Hoa ở Đồng Nai, Đồng Nai di tích lịch sử - văn hóa, Người Đồng Nai, Làng Bến Cá, Làng Bến Gỗ, Cù lao Phố, Nghề thủ công ở Thạnh Phú - Vĩnh Cửu, Di sản văn hóa làng Hiệp Phước, Di sản làng bưởi Tân Triều, Phong tục tập quán người Hoa ở Biên Hòa, Đờn ca tài tử Nam bộ... Đặc biệt, bảo tồn di sản chữ Hán thông qua việc khảo sát, thống kê các sắc thần ở đình làng; sưu tầm văn cúng chữ Hán - Nôm trong các lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn Đồng Nai... nhằm giữ gìn các yếu tố gốc; hạn chế việc sao chép, phục chế sắc thần tràn lan và làm mai một di sản chữ Hán.

Những phim tư liệu đã thực hiện và phát sóng trên truyền hình, như: Đồng Nai danh lam cổ tích, Gốm Biên Hòa, Nghề thủ công truyền thống ở Đồng Nai, Thiên nhiên Đồng Nai, Biên Hòa - những chặng đường khai phá và thuộc Pháp, Đồng Nai đấu tranh giải phóng dân tộc… Nhiều bộ phim tư liệu được sưu tầm, ghi hình và lưu giữ, như: Lễ hội kỳ yên của người Việt, Lễ hội Tả tài phán của người Hoa, Lễ hội làm Then của người Nùng, Lễ hội Sa-Yang-Va của người Chơro, Lễ hội đâm trâu của người Mạ …

 * Giáo dục tuyên truyền về giá trị, ý nghĩa của hiện vật bảo tàng

Trưng bày bảo tàng là phương pháp trực quan đối với người xem nhằm giáo dục tuyên truyền về giá trị, ý nghĩa của hiện vật bảo tàng. Thông qua trưng bày cố định, hơn 10 năm qua, công chúng trong và ngoài địa phương có thể cảm nhận về lịch sử tự nhiên và xã hội Đồng Nai rất phong phú, đa dạng và đặc thù theo từng chuyên đề trưng bày. Với hơn 3.000 tài liệu hiện vật, nội dung trưng bày gồm 14 phòng cụ thể về: Tổng quan và thiên nhiên Đồng Nai, Văn hóa các dân tộc ít người, Văn hóa người Việt, Nghề thủ công gốm - đá, Đồng Nai thời tiền sử, Thời sơ sử Đồng Nai, Đồng Nai thời kỳ khai phá và thuộc Pháp, Phong trào cách mạng từ năm 1930-1945, Thời kỳ 1945-1954, Thời kỳ 1954-1975, Đồng Nai xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Phát huy di sản theo phương pháp của bảo tàng hiện đại, BTĐN không chỉ giới thiệu qua các sưu tập hiện vật gốc mà còn kết hợp với tái hiện đời sống thực và trình diễn làng nghề thủ công truyền thống, tái hiện những lễ hội của các dân tộc, các phong tục tập quán của cộng đồng ở địa phương…

Bảo tàng Đồng Nai hiện đang lưu giữ trên 20 ngàn hiện vật thuộc đủ loại hình từ lịch sử tự nhiên đến lịch sử xã hội. Kho hiện vật đảm bảo về cơ sở vật chất và ứng dụng những kỹ thuật bảo quản theo phương pháp hiện đại nhằm duy trì “tuổi thọ” hiện vật; trên cơ sở đó, giúp cho việc quản lý và truy xuất hiện vật một cách khoa học, nhanh chóng đáp ứng công tác nghiên cứu và trưng bày của bảo tàng.

Bên cạnh đó, phần lớn cán bộ BTĐN còn tham gia những tổ chức hội nghề nghiệp để phối hợp nhiệm vụ. Thông qua Hội Văn học - nghệ thuật tỉnh, Hội Sử học Đồng Nai, Chi hội Văn nghệ dân gian Đồng Nai, Chi hội Di sản văn hóa; Bảo tàng Đồng Nai đã thực hiện nhiều đề tài, nhiều công trình nghiên cứu, như: Lịch sử truyền thống các địa phương, Tượng gốm Đồng Nai - Gia Định, Người Chơro ở Đồng Nai, Truyện kể người Mạ, Địa danh Hành chính - Lịch sử - Văn hóa Đồng Nai, Atlas Đồng Nai... Tổ chức các lớp truyền dạy về văn hóa dân gian, như: khôi phục nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Mạ; truyền dạy đánh cồng chiêng trong đồng bào Chơro…

35 năm qua, các thế hệ cán bộ BTĐN đã vượt qua mọi khó khăn, không ngừng phấn đấu, nỗ lực học tập, trau dồi tri thức, kinh nghiệm nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, góp phần hoàn thành nhiệm vụ được giao. Cùng với hệ thống bảo tàng cả nước, BTĐN luôn được kiện toàn về cơ sở vật chất làm việc, trong bảo quản và trưng bày, nghiên cứu khoa học, kết hợp ứng dụng công nghệ hiện đại, xứng danh Bảo tàng loại II trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của tỉnh nhà.

Nguyên Thơ

 

 

 

 

.
.
;
.
.