50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969-2019):

Xây dựng Đảng theo lời căn dặn của Bác

Cập nhật lúc 21:03, Chủ Nhật, 30/06/2019 (GMT+7)

Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề về Đảng được Bác nhắc tới đầu tiên: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”…

Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương (thứ 3 từ trái qua) thăm vườn quýt cho thu nhập mỗi năm hàng tỷ đồng của gia đình ông Hà Thắng, Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp, thương mại, dịch vụ Bình Minh (xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu)
Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương (thứ 3 từ trái qua) thăm vườn quýt cho thu nhập mỗi năm hàng tỷ đồng của gia đình ông Hà Thắng, Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp, thương mại, dịch vụ Bình Minh (xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu)

Sau 50 năm thực hiện Di chúc của Người, công tác xây dựng Đảng theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự cấp bách trong giai đoạn hiện nay khi toàn Đảng đang triển khai sâu rộng Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng.

* Giữ gìn đoàn kết trong Đảng

Để giữ gìn được sự đoàn kết, Bác căn dặn: “Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”. Ở đây, Bác đã nhấn mạnh vấn đề “thực hành dân chủ”, bởi Đảng ta là Đảng cầm quyền, nếu không sẽ dẫn đến chuyên quyền, độc đoán. Do đó, phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhưng khi thực hiện tự phê bình và phê bình “phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”, tránh việc làm qua loa, nặng dưới, nhẹ trên, chụp mũ, áp đặt.

Từ năm 2016 đến nay, Ban TVTU đã tổ chức giám sát chuyên đề 11 cấp ủy, tổ chức Đảng và 32 trường hợp là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng; chỉ đạo cấp ủy các cấp trực thuộc giám sát 783 đảng viên (trong đó có 274 cấp ủy viên cấp huyện và cơ sở). Qua đó đã xử lý nhiều trường hợp sai phạm, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch vững mạnh.

Nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cho rằng, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén để giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thông qua đó để nhận diện yếu kém trong nội bộ Đảng, kiên quyết loại trừ những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, góp phần làm trong sạch bộ máy, đội ngũ của Đảng.

Bác cũng rất quan tâm đến vấn đề đạo đức trong Đảng. Trong Di chúc khi nói về Đảng cầm quyền chỉ hơn 3 dòng nhưng Bác đã dùng tới 4 chữ “thật” để nhấn mạnh rằng, “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

* Thấm nhuần lời dạy của Bác

Thấm nhuần lời dạy của Bác về xây dựng Đảng, những năm qua công tác xây dựng Đảng ở Đồng Nai đã được chú trọng. Trong đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng luôn được coi là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng bộ tỉnh. Các cấp ủy Đảng đã quan tâm, chỉ đạo việc học tập, quán triệt và triển khai tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng một cách nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết cụ thể, sát hợp tình hình thực tiễn. Kết quả, tỷ lệ cán bộ, đảng viên được học tập các chỉ thị, nghị quyết luôn đạt trên 98%.

Đồng chí Thái Bảo, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cho biết, mỗi năm Ban TVTU tổ chức 2-3 lớp bồi dưỡng cho cán bộ chủ chốt các cấp nhằm cung cấp kiến thức mới, nâng cao nhận thức và hành động cho đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ.

Tỉnh cũng đã thực hiện lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh. Qua đó, hầu hết cán bộ lãnh đạo các cấp đều đạt tín nhiệm và tín nhiệm cao; cán bộ, đảng viên trong tỉnh giữ vững được bản lĩnh chính trị, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước.

 Từ năm 2008 đến nay, Tỉnh ủy còn tổ chức sinh hoạt chi bộ chung trong toàn tỉnh, 1 quý/lần bằng hình thức truyền hình trực tiếp trên Đài PT- TH Đồng Nai. Trong sinh hoạt Đảng, phần lớn các chi bộ sinh hoạt đúng vào ngày 3 hằng tháng, riêng các chi bộ loại hình doanh nghiệp được sinh hoạt trước hoặc sau ngày mùng 3, nhưng không quá ngày 15 hằng tháng, tỷ lệ đảng viên trong các chi bộ tham gia sinh hoạt Đảng đạt từ 90-99%. Cấp ủy cấp trên thường xuyên theo dõi, hướng dẫn các chi bộ cơ sở về nội dung sinh hoạt.

Song song đó, công tác phát triển đảng viên mới được Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Hằng năm đều giao chỉ tiêu cụ thể về phát triển Đảng cho các Đảng bộ trực thuộc. Đến nay, toàn tỉnh có gần 80 ngàn đảng viên. Trong việc phát triển đảng viên mới, Đồng Nai rất quan tâm phát triển Đảng ở vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào dân tộc thiểu số và nhất là trong các doanh nghiệp.

Trong công tác xây dựng Đảng, các cấp ủy, tổ chức Đảng và ủy ban kiểm tra các cấp còn quan tâm, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát nhằm giữ vững nguyên tắc lãnh đạo và sự nghiêm minh của Đảng để thực hiện thắng lợi nghị quyết hàng năm của Tỉnh ủy và Nghị quyết đại hội Đảng các cấp. Đặc biệt từ sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, Ban TVTU và các cấp ủy đã tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng một cách toàn diện; chú trọng kiểm tra, giám sát những nội dung trọng tâm, lĩnh vực trọng điểm, vụ việc nổi cộm dư luận quan tâm. Đồng thời kiểm tra, giám sát trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương, việc khắc phục những hạn chế khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.           

Phương Hằng

.
.
;
.
.